Trở lại ngày giãy chết của Black Metal

“Nothing gold can stay” gợi ta nhớ lại bài thơ của Robert Frost, và điều này cũng đúng với black metal. Giai đoạn vàng của dòng nhạc này diễn ra từ năm 1991 đến 1994, khi những kẻ tiên phong khai phá nên một thể loại hoàn toàn mới, đạt đến đỉnh cao của sáng tạo. Tuy nhiên, sau album Burzum – Hvis Lyset Tar Oss, black metal không có gì đặc sắc hơn những thể loại nhạc na ná, theo phong cách rock khác.
Cũng như nhạc Jazz và “progressive” rock, black metal có thể được xem như sự trộn lẫn giữa phong cách “ambient”, “progressive rock”, những âm thanh giận dữ và cả nhạc cổ điển. Những kẻ nổi loạn đến từ Bắc Âu muốn sáng tác bản anh hùng ca với cấu trúc và giai điệu độc nhất, dường như đối lập với nhiều bài hát có nhịp điệu của rock với sự thay đổi nhỏ của vocal trên nền những kĩ thuật và thể thức lặp lại. Thêm điệu samba vào những nhịp điệu nhanh, mạnh cùng với các hợp âm từ chất liệu nhạc dân gian, bạn đã có cho mình một điều gì đó rất mới mẻ. Nhưng chừng đó là chưa đủ! Trong trường hợp này, hoặc nó sẽ được nổi lên trên hoặc sẽ chìm nghỉm xuống phía dưới. Và than ôi, với số lượng và năng lượng có được, black metal đã chìm xuống dưới.
Enslaved – Blodhemn (1998) nổi lên như một trong nhiều minh chứng cho sự thất bại này. Ban nhạc bắt đầu khá mượt với bản thu âm đầu tay Vikinglgr Vldi và album ngắn Hordanes Land. Tuy nhiên, Enslaved tỏ ra đuối hơi, sau đó đã quay trở lại với những câu riff ngắn, cấu trúc bài hát cũ trong album Frost. Trong chừng mực nào đó, điều này vẫn có thể được chấp nhận. Nhưng khi để ý kĩ, bạn sẽ thấy album nghe như một sự sáng tạo vội vã, nghiêng về chất death/speed nhiều hơn là sắc thái của balck metal. Sự khủng hoảng thực sự đến với Blodhemn, chỉ duy nhất ca khúc “Urtical Forms” mang hơi hướng của thời kỳ Enslaved trước, phần còn lại không khác các cấu trúc đã được thiết đặt sẵn từ Frost. Trớ trêu thay, điều này xảy ra khi ban nhạc tiến tới giai đoạn định hình phong cách rõ rệt nhất.

Impaled Nazarene – Rapture (1998) tiếp cận một hướng khác – một hướng đi đã định hình nên chất nhạc metal của Finland vào giai đoạn này. Đó là sự pha trộn giữa hardcore và grindcore, cùng với việc bổ sung thêm những câu riff và hợp âm theo phong cách metal. Đây có thể xem là một album khá cứng cựa, nhưng quá đơn giản và theo những lối mòn không thể “mòn” hơn – nếu xét theo bối cảnh của black metal. Chính vì vậy, không có nhiều thứ để mất ở đây nhưng cũng không có nhiều điều mới để bàn. Cách tiếp cận này không mới đối với black metal nhưng lại đánh mất chất “ambience” cũng như những hương liệu đậm đà mang phong cách black metal.


Album cũng phản ánh một sự thật khó nuốt, rằng nhiều ban nhạc black metal cố gắng viết nhạc sao cho có nhiều người nghe nhất. Trong khi ca khúc “We are Satan’s Generation” có tính hấp dẫn về nhịp điệu và ca từ, hướng tiếp cận trên của ban nhạc đã hủy hoại những ca khúc còn lại. Kết quả là, accs bài hát nghe như mootjo ban nhạc grindcore chơi lại Discharge  và Terveet Kadet với sự trang trí thêm từ những câu riff mang hơi hướng AC/DC. Thực tế cho thấy hướng đi này nhanh chóng lụi tàn và Impaled Nazarene đã chuyển hướng sang “old school hardcore punk” trong những album tiếp theo, và sau này là “melodic heavy metal”.


Gorgoroth – Destroyer (1998) bắt đầu gặp khủng hoảng 4 năm sau đỉnh điểm sáng tạo của black metal. Ban nhạc may mắn tìm lại được một phần của mình mặc dù không thể không có sự thay đổi trong âm nhạc. Heavy metal thường có tài trong việc sắp đặt các đoản khúc phức tạp cùng nhau và bỏ qua nhiều phần giai điệu, sự hòa âm cũng như kĩ thuật – một điểm khác với nhạc jazz và “progressive rock”. Đối với metal, ít nhất là các trường phái trước đó, giai điệu và cấu trúc là đủ. Gorgorith đã chọn phát hành một album đậm chất heavy metal trong vỏ bọc của kĩ thuật black metal.


Các ca khúc trong album này mang âm hưởng của blakc metal giai đoạn sau, tập trung vào những câu riff kĩ thuật có nhịp điệu với các hợp âm của heavy metal. Điều này giúp tạo nên một thể loại dễ nghe nhưng vẫn giữ lại được độ phê “atmospheric” hoặc mở rộng các chủ đề sáng tác nhờ vào sự tương tác của riff. Nghe có vẻ nực cười, nhưng nó na ná như một album của KISS được chơi nhanh lên 15 lần bởi những gã nghiện cú riff nặng của Slayer và Morbid Angel. Theo cách này, ban nhạc hy sinh những điều khiến black metal trở thành một thực thể độc nhất và để người nghe trải nghiệm những điều quen thuộc ở một tốc độ nhanh hơn mà thôi.


Immortal – At the Heart of Winter (1999) thấm nhuần được bài học từ những kẻ muốn đại chúng hóa âm nhạc black metal. Thay vì kéo lại vết xe đổ, họ kết hợp chất liệu của heavy metal sử thi với kĩ thuật của black metal, và đặc biệt, cố gắng giữ lại phần hồn của blakc metal trong chất nhạc của mình. Những ca khúc dễ nhớ có cấu trúc gắn liền với nội dung, theo sát các chủ đề sáng tác …… khá đa dạng (nói chung là loằng nhoằng các chủ đề con…).


Bằng việc bỏ qua tính cứng nhắc về mặt thẩm mỹ của các phong cách khác nhau trong quá khứ, thay vào đó những điểm điểm huyễn hoặc hơn như linh hồn, sự chi phối của cảm xúc, Immortal cố gắng chuyển tải sức mạnh của black metal trong một phong cách gần với Dissection, Sacramentum, hay Varathron. Đáng tiếc là, khuynh hướng này cũng đồng nghĩa với việc nói tạm biệt và dựng lên tấm bia cho thể loại mà họ đã từng góp công sáng tạo nên. Có vẻ như black metal rồi sẽ được dẫn dắt bởi … một kiểu như là… một người thiểu năng cố gắng phủ lớp bánh nền death metal lên thức ăn của trẻ em.
Chắc chắn là, sự sụp đổ của tượng đài black metal có sự đóng góp không nhỏ từ các hãng phát hành đĩa. Mặc dù tôi khá quan tâm đến Jon Jamshid (Full Moon Productions) và Yosuke Konishi (Nuclear War Now), nhưng có vẻ như bất kỳ nỗ lực nào của họ đều mang đến một định mệnh tồi tệ nhất có thể của bất cứ thể loại nhạc nào: các bản phát hành có thể trao đổi không giới hạn với chất lượng “sêm sêm”, khác nhau có chăng ở mặt thẩm mỹ. Đây có lẽ không phải câu hỏi về sự sáng tạo, mà là sự diễn đạt; không có gì được chuyển tải từ thứ âm nhạc này ngoại trừ một thể thức black metal mập mờ  với sự thiếu hụt ghê gớm các tố chất thực sự của black metal bên trong. Những kẻ đần FMP/NWN nhanh chóng tiêu hóa những thể loại này và chuyển hóa chúng thành thể loại black punk ba nốt (three – chord).
Hệ quả đến nhanh chóng khi ngày càng có nhiều ban nhạc chuyển sang các dự án nhạc điện tử, như Beherit hay Burzum, hoặc ly khai hoàn toàn khỏi black metal. Black metal thực hiện một sự di trú đến với đại chúng và Hollywood nâng nó lên “một tầm cao mới”. Và như thường lệ, họ quên một điểm – sự thận trọng – biến thể loại nhạc này thành biểu tượng mới của lớp thanh niên nổi loạn trong những sô diễn đậm phong cách Hollywood.
May thay, chúng ta có thể học được nhiều bài học hay từ những kinh nghiệm thực tiễn này. Tất cả nỗ lực của loài người thường thất bại khi đám đông xuất hiện, cố gắng lôi kéo từng mẩu vinh quang về cho bản thân mình. Một điều dễ thấy, đa phần họ là những người theo đuôi, không phải người dẫn đường, và do vậy, dễ dàng thay đổi quan điểm, biến những điều mới được ngã giá thành những chân lý mới, cũng như khẳng định nó thực sự tốt hơn những điều trước đây. Điều này đã được chứng minh qua nhiều sự sắp đặt lại ở nhiều thể loại nhạc khác thời kỳ sau black metal, như shoegaze, emo, punk, và speed metal. Tương lai sẽ thuộc về những thể loại nhạc ly khai khỏi ngôi nhà “underground”, có khả năng tìm đến linh hồn thực sự của heavy metal từ chất nhạc metal nguyên thủy (hay black metal thời kỳ đầu) và quan trọng nhất, có thể đứng vững trong bầy đàn đám đông. Black metal đã phụng sự cho những mục tiêu của nó, và giờ đây, có thể trỗi dậy một lần nữa để mang những tri thức âm nhạc riêng biệt một thời của nó đến tương lai.

Tác giả: Brett Stevens

Soulextremely – Dịch từ “Revisiting the days when Black metal died”

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *